HÁT VĂN HẦU ĐỒNG NGHIÊN CỨU TẠI PHỦ DẦY – NAM ĐỊNH
22/12/2017

MỞ ĐẦU

  1. Lí do chọn đề tài

    Việt Nam là đất nước có sự hòa hợp của nhiều tín ngưỡng tôn giáo khác nhau.Mỗi tín ngưỡng, tôn giáo có một nghi lễ, nghi thức riêng tiêu biểu cho tín ngưỡng, tôn giáo đó. Hầu đồng là nghi thức chính, điển hình của tín ngưỡng thờ Mẫu- một hiện tượng văn hóa tồn tại khá phổ biến ở nhiều địa phương Việt Nam. Thông thường, một tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có yếu tố tâm linh làm nền tảng thì ở tín ngưỡng thờ Mẫu lại do hai yếu tố: đạo lí và tâm linh cấu thành. Mẫu với ý nghĩa là người mẹ sinh thành, là nguồn cội, có vai trò to lớn trong đời sống tinh thần của con người. Bên cạnh ý nghĩa tín ngưỡng, Đạo Mẫu còn tích hợp những giá trị văn hoá, nghệ thuật mà ít có tín ngưỡng nào có được, gồm: văn học dân gian, nghệ thuật diễn xướng (hát, múa, nhạc), tạo hình. Đây cũng là một sinh hoạt văn hoá cộng đồng, thu hút nhiều người, nhất là các bà, các mẹ tham gia.

    Trong hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu, Phủ Dầy (xưa thuộc huyện Thiên Bản, nay đổi là Vụ Bản, tỉnh Nam Định), với gần 20 di tích được coi là một trong những trung tâm lớn. Nhân vật Mẫu được thờ trong quần thể này là Mẫu Liễu Hạnh - một trong tứ bất tử của thần điện Việt Nam và là thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu. Nét độc đáo nhất Phủ Dầy là thường xuyên các buổi hầu đồng để ngợi ca công đức của các Thánh Mẫu mà đứng đầu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh và các thánh thần, những người có công xây dựng và bảo vệ tổ quốc, giúp đỡ nhân dân thoát khỏi những tai ương trong cuộc sống. Người xưa quan niệm rằng: hát chầu văn kết hợp với hầu bóng ở Phủ Dầy là một phương thức hữu hiệu nhất để giao tiếp với Mẫu, với Thánh Thần, nhằm bày tỏ nguyện vọng và những nỗi niềm thầm kín trước sự hiện diện của các vị thần linh. Trong không khí huyền bí của nghi lễ hầu đồng ngay trước phủ thờ Mẫu thuộc quần thể di tích Phủ Dầy, con người có dịp sống những giờ phút tràn đầy niềm tin, hy vọng vào tương lai tươi sáng. Tuy nhiên, trước năm 1990, hầu đồng và lễ hội Phủ Dầy bị cấm đoán do hoàn cảnh chiến tranh, do nhận thức cho nghi lễ này là mê tín dị đoan bởi có hiện tượng người ta lợi dụng hầu đồng vì các mục đích khác nhau, thậm chí phản lại tính nhân bản, tính văn hóa của tôn giáo tín ngưỡng. Thực tế đã có không ít người núp bóng tín ngưỡng dân gian này để trục lợi, buôn thần, bán thánh. Những người đó lợi dụng lòng tin, gieo rắc mê tín...để xã hội và mọi người có những đánh giá sai lệch về những giá trị tốt đẹp của Đạo Mẫu. Để định hướng đúng cho nghi thức thực hành Đạo Mẫu đậm màu sắc tâm linh này, nhiều công trình nghiên cứu về Đạo Mẫu nói chung; nghi thức hầu đồng  nói riêng đã được tiến hành và thảo luận ở Hà Nội và ngay trên quê hương của Mẫu. Kết quả các cuộc hội thảo đó đã tác động mạnh đến nhận thức của cán bộ và nhân dân địa phương cùng khách thập phương cả nước về Đạo Mẫu và nghi lễ thực hành tín ngưỡng này. Mặc dầu vậy vẫn rất cần những nghiên cứu cụ thể hơn về hầu đồng, về hát văn hầu đồng để xác định những giá trị tích cực và phản tích cực (nếu bị lợi dụng) của nghi lễ này. 

    Với mục đích nghiên cứu, làm rõ các giá trị văn hóa ẩn chứa trong hát văn hầu đồng đang được những người thực hành nghi lễ hầu đồng ở Phủ Dầy gìn giữ ra sao để từ đó đóng góp những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp cuả dân tộc, trong khuôn khổ của một luận văn, tôi chọn đề tài Hát văn hầu đồng – nghiên cứu tại Phủ Dầy Nam Định làm đề tài để nghiên cứu.

  2. Lịch sử nghiên cứu

    Có thể chia các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài thành haihướngchínhsau:

    1. Nghiên cứu về nghệ thuật hát văn hầu đồng

      Thuộc về hướng nghiên cứu này có các công trình tiêu biểu sau:

  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
  • Ngô Đức Thịnh (chủ biên), (1992), Hát văn, Nxb Văn hóa Dân tộc

    Trong công trình này, các tác giả đặt ra hàng loạt các vấn đề về điện thần của đạo Tam phủ, Tứ phủ, mối quan hệ giữa Tam phủ, Tứ phủ với các tín ngưỡng dân gian khác. Các tác giả cũng đã đặt ra vấn đề nguồn gốc, các khuynh hướng phát triển của hát văn, lên đồng, tính địa phương của loại hình tín ngưỡng này. Đặc biệt, các khía cạnh nghệ thuật hát văn được nêu ra một cách tương đối hệ thống. Kết quả nghiên cứu của các tác giả trong công trình này về sự phân biệt các điệu và các loại trong mỗi điệu sẽ được chúng tôi kế thừa khi phân tích nghệ thuật hát văn của cung văn tại Phủ Dầy.

  • Thanh Hà (1995), Âm nhạc Hát văn, Nxb Âm nhạc

    Trong công trình này, tác giả Thanh Hà tập trung vào các nội dung: hình thức các đoạn nhạc, liên khúc hát văn, các câu hát mở đầu và kết, bàn về mô típ chủ đạo, điệu thức và phức điệu. Ở chương Điệu thức, tác giả đề cập đến những điệu thức riêng, điệu thức chung và điệu thức đặc biệt trong hát chầu văn. Điệu thức riêng được tác giả xem xét qua một số làn điệu như: vỉa bồng mạc vào điệu hoài xuân vọng nguyệt; điệu phú dầu trích trong giá văn cô Ba Thoải; vỉa chèo đò, cờn xuân hát trên thơ lục bát gián thất. Chúng tôi sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu này của tác giả khi phân tích tính thích ứng của thể loại thơ lục bát và song thất lục bát với các làn điệu hát trong chầu văn. Để từ đó lí giải vì sao lời thơ trong văn bản chầu dễ cất lên thành lời ca đến vậy. Và cũng để hiểu sự lan tỏa của loại hình hát văn trong đời sống hiện nay ngoài nội dung tâm linh giải tỏa những ẩn ức của con người, còn có sự tác động không nhỏ của những làn điệu hát dân ca phổ biến trên khắp cả ba miền.

  • Nguyễn Quang Hải và Bùi Đình Thảo (1996), Hát Chầu văn, Nxb Âm nhạc

    Sách gồm phần Mở đầu và năm chương. Các chương chủ yếu nói về nguồn gốc lịch sử của nghệ thuật hát chầu văn, nghi thức và âm nhạc hát chầu văn. Đặc biệt trong cuốn sách này, các tác giả để hẳn một chương nói về việc kế thừa và phát triển của hát chầu văn. Quan điểm và đề xuất của các tác giả nói về việc kế thừa và phát triển hát văn, mặc dù chủ yếu từ góc nhìn âm nhạc nhưng cũng gợi ý cho chúng tôi những giải pháp cụ thể khi triển khai nhiệm vụ đề xuất hướng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của hát văn hầu đồng về phương diện cách thức giữ gìn các làn điệu hát văn cổ và mức độ “hát văn hóa” các làn điệu mới .

    1. Nghiên cứu về nội dung các bài hát văn hầu đồng

      Nghiên cứu về nội dung các bản hát văn, có một số công trình đề cập tới ở một vài phương diện, nhưng có hai công trình nghiên cứu khá sâu. Đó là hai luận văn thạc sĩ: một luận văn với đề tài “Thế giới nghệ thuật trong những bài hát văn ở Phủ Giầy Nam Định” - Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn, ĐHSPHN, Hà Nội, của tác giả Phùng Thị Thanh Huyền (2008) và một luận văn với đề tài “Tìm hiểu thế giới tâm linh người Việt qua văn hầu đồng”- Luận văn thạc sĩ khoa học Việt Nam học, ĐHSPHN, Hà Nội của tác giả Hà Thị Bích Thảo(2014).

      Mặc dù tác giả Phùng Thị Thanh Huyền lấy tên đề tài nghiên cứu là “Thế giới nghệ thuật trong những bài hát văn ở Phủ Giầy”(Phủ Giầy là chữ dùng của tác giả luận văn) nhưng ngữ liệu khảo sát để phục vụ cho việc nghiên cứu lại chủ yếu là các văn bản hát văn do tác giả Ngô Đức Thịnh sưu tầm từ các vùng miền trong cả nước và công bố trong “ĐạoMẫu ở Việt Nam” (tập 2- 100 bài bài văn chầu).  Tác giả đã xác định rất rõ “phạm vi nghiên cứu là những văn bản hát văn đã và đang được sử dụng trong những sinh hoạt nghi lễ vẫn thường diễn ra hàngnăm ở vùng địa linh Thiên bản” (19, tr 14) nhưng tác giả mới chỉ ra được không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và nghệ thuật xây dựng hệ thống nhân vật từ các Thánh mẫu tới Ngũ vị năm quan, các ông Hoàng, các cô các cậu…đặc sắc như thế nào trong các văn bản hát văn. Những vấn đề về không gian hầu đồng ở quần thể di tích Phủ Dầy, hoặc thời gian thườngdiễn ra nghi lễ hầu đồng ở Phủ Dầy có gì điểm gì tác động đến hát văn hầu đồng, đến người nghe văn hầu đồng không...tác giả chưa đặt ra để xem xét. Vì vậy có thể nói luận văn này vẫn để trống nhiều khoảng nghiên cứu về hát văn, đặc biệt là nghiên cứu về giá trị văn hóa trong hát văn hầu đồng ở Phủ Dầy cho các công trình đi sau.

      Luận văn Thạc sĩ Việt Nam học “Tìm hiểu thế giới tâm linh người Việt qua văn hầu đồng”của tác giả Hà Thị Bích Thảo cũng lấy ngữ liệu khảo sát là các bài hát văn đã được tác giả Ngô Đức Thịnh sưu tầm, công bố trong Đạo Mẫu ở Việt Nam-  tập 2- 100 bài văn chầu.

      Bằng việc khảo sát các bài văn chầu, tác giả đã phân tích hình ảnh các nhân vật mang dáng dấp con người, cảnh vật trong văn hầu đồng để từ đó có cái nhìn tổng quan rộng mở và sâu sắc hơn về nghi lễ hầu đồng nói chung, về thế giới tâm linh người Việt trong văn hầu đồng nói riêng. Nghiên cứu các bài văn chầu, tác giả luận văn chủ yếu dựa vào văn bản, không gắn với môi trường diễn xướng cụ thể nào.Hướng triển khai của luận văn này đã thể hiện rõ mục đích nghiên cứu khác với mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn mà chúng tôi đã chọn.

      Như vậy, hai đề tài mà chúng tôi vừa phân tích cùng lấy hát văn làm ngữ liệu nghiên cứu giống như đề tài của chúng tôi, nhưng mỗi đề tài có mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau, phương pháp tiếp cận khác nhau, nên đề tài của chúng tôi có hướng triển khai hoàn toàn khác với hai đề tài vừa dẫn.

        Điểm qua các công trình đi trước cũng nghiên cứu về hát văn, chúng tôi thấy không có công trình nào có hướng nghiên cứu trùng với hướng nghiên cứu của đề tài chúng tôi.

      Vì vậy có thể khẳng định đề tài: Hát văn hầu đồng- nghiên cứu tại Phủ Dầy Nam Định là đề tài mới, chưa có công trình nào đã xuất bản trước đây nghiên cứu. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ kế thừa thành tựu của các công trình đi trước trong quá trình thực hiện luận văn của mình. Đây là những tư liệu quý giúp chúng tôi hoàn thành luận văn.

  1. Đối tượng nghiên cứu

    Hát văn hầu đồng tại Phủ Dầy, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định, tuy nhiên luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu về hát văn.

  2. Phạm vi nghiên cứu

    Có thể nghiên cứu hát văn hầu đồng từ nhiều phương diện, nhưng trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn là xem xét hát văn hầu đồng từ góc nhìn giá trị văn hóa. 

    Về không gian: Nghiên cứu hát văn tại quần thể di tích Phủ Dầy, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

    Về thời gian: Nghiên cứu hát văn tại quần thể di tích Phủ Dầy, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định ở thời điểm hiện nay.

  3. Nhiệm vụ nghiên cứu

    Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải thực hiện được các nhiệm vụ cơ bản sau:

    Làm rõ những vấn đề lí luận làm cơ sở lý thuyết cho đề tài.

    Làm rõ  những giá trị của hát văn về nội dung, nghệ thuật qua các hình thức hát văn và vai trò giữ gìn các giá trị này của cung văn, người hầu đồng và thủ nhang tại các đền phủ ở Phủ Dầy, Vụ Bản Nam Định.

    Xác định được các giá trị cơ bản của hát văn ở Phủ Dầy, Vụ Bản Nam Định, đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị hát văn ở Phủ Dầy, Vụ Bản tỉnh Nam Định.

    1. Giả thuyết nghiên cứu

      Hát văn là linh hồn của nghi lễ hầu đồng. Đây là một nghi lễ của tôn giáo tín ngưỡng ẩn chứa trong mình nhiều giá trị, song không ít người đặt ra câu hỏi: hầu đồng, hát văn hầu đồng có gì là tích cực hay chỉ là mê tín dị đoan và có còn phù hợp với lối sống của con người xã hội hiện đại không? Điều này cần nhận thức rõ. Chúng tôi cho rằng, hát văn hầu đồng là một giá trị văn hóa. Giá trị này, trước hết thể hiện trong nội dung các văn bản hát văn, trong các làn điệu hát văn và cả trong môi trường diễn xướng tâm linh nhưng mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc. Nếu những kết quả nghiên cứu hát văn hầu đồng tại Phủ Dầy cho thấy các giá trị văn hóa này vẫn đang được gìn giữ, không bị mai một, chúng ta sẽ có cơ sở khoa học và thực tiễn để khẳng định hát văn hầu đồng là một loại hình ca nhạc đặc biệt, có giá trị, cần được bảo tồn và phát huy.

    2. Phương pháp nghiên cứu.

      Để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

      Phương pháp liên ngành của chuyên ngành Nghệ thuật học và Văn hóa học đó là những phương pháp: phương pháp của ngành Nhân học văn hóa, cụ thể là phương pháp quan sát và phương pháp tham dự, Xã hội học văn hóa (khảo sát, điều tra), phương pháp Tổng hợp – Thống kê (hệ thống các kết quả khảo sát, sử dụng các kỹ thuật chụp hình, vẽ biểu đồ, vv).

      Chúng tôi tiến hành khảo sát, mục đích của việc khảo sát là nhằm tìm hiểu sự ảnh hưởng của hát văn đến các đối tượng người dân. Hát văn chứa đựng trong nó nhiều giá trị văn hóa dân tộc nhưng cho đến ngày nay nó có còn nguyên giá trị? Nó có tác động như thế nào tới đời sống hiện tại của người dân. Họ có đi xem hầu đồng, hát văn không? Nghề nghiệp của từng người có ảnh hưởng đến sự quan tâm và hiểu biết của họ tới hát văn hầu đồng không?

      Chúng tôi đã phát 150 phiếu theo bảng hỏi số 1 (phụ lục số 2.5) cho 150 hộ dân thuộc hai xã Kim Thái và Liên Minh. Mỗi xã 75 phiếu trên ba đối tượng nghề nghiệp: nông nghiệp, kinh doanh buôn bán và viên chức. Xã Kim Thái là nơi có di tích tín ngưỡng Phủ Dầy. Xã Liên Minh cách Phủ Dầy khoảng 15 km. Đồng thời chúng tôi cũng phát 200 phiếu theo bảng hỏi số 2 (phụ lục số 2.5.) cho học sinh cấp một và cấp hai ở hai xã trên. Mỗi cấp học ở mỗi xã 50 phiếu.

    3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
      1. Ý nghĩa khoa học

        Cho đến nay vẫn không ít người còn băn khoăn: hầu đồng là một nghi lễ văn hóa dân gian hay là một nghi lễ tôn giáo đậm màu sắc mê tín dị đoan? Vì sao một thời gian dài, hầu đồng bị cấm kị?

        Để trả lời các câu hỏi này một cách thuyết phục và có cơ sở khoa học, luận văn đã phân tích hát văn từ góc độ văn bản nhằm chỉ ra bản sắc văn hóa của người Việt được thể hiện trong nội dung và cách thức biểu đạt của các bài văn chầu như thế nào để từ đó lí giải vì sao các sáng tác dân gian này không bị mất đi theo thời gian mà sống mãi trong đời sống tinh thần của người dân cho đến ngày nay. Luận văn cũng phân tích hát văn từ góc độ môi trường diễn xướng để chỉ rõ sức sống mãnh liệt của các làn điệu dân ca khi được “hát văn hóa”, được các cung văn thể hiện thăng hoa, cộng hưởng với thanh đồng, với con nhang đệ tử trong không gian tâm linh Phủ Dầy, đã có sự tác động và lan tỏa trong đời sống cộng đồng như thế nào.

        Luận văn tìm hiểu hát văn từ điểm nhìn văn hóa nhằm làm toát lên được các đặc trưng, giá trị cơ bản của nghi lễ thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ, từ đó góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian này.

      2. Ý nghĩa thực tiễn

        Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp một cách trực tiếp và có giá trị tham vấn trong quá trình ra quyết định nhằm bảo tồn và phát huy đúng hướng các giá trị văn hóa phi vật thể nói chung và hát văn hầu đồng nói riêng. Đặc biệt làm cơ sở cho các cơ quan chức năng ở địa phương trong việc tổ chức, quản lý hoạt động tín ngưỡng tại các đền phủ ở Phủ Dầy.

        Góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của địa phương – một yếu tố được coi là không thể thiếu của sự phát triển

        Bên cạnh đó, những khảo sát thực tế của luận văn sẽ là nguồn tư liệu hữu ích cho sinh viên đại học và trên đại học các ngành:Việt Nam học, Văn hóa học và các ngành học có liên quan như: Ngôn ngữ học, Tôn giáo học….

    4. Cấu trúc của luận văn
  1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
    1. Mục đích nghiên cứu

      Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ các giá trị văn hóa ẩn chứa trong hát văn hầu đồng để góp phần khẳng định quan điểm bảo tồn, phát huy loại hình văn hóa tâm linh này là đúng đắn. Bước đầu góp phần vào hoạt động nghiên cứu chung về văn hóa phi vật thể truyền thống dân tộc. Xa hơn nữa là hướng đến mục tiêu chung xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

  Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Nội dung của luận văn chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về Phủ Dầy

Ở chương 1, chúng tôi trình bày những vấn đề mang tính lý luận: khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, tổng quan về Phủ Dầy.

Chương 2:  Hát văn hầu đồngtrong nghi lễ thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Dầy,Vụ Bản, Nam Định

Trong chương này, chúng tôi phân tích thực trạng hoạt động hát Văn hầu đồng trong nghi lễ thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy, Nam Định, cách thức quản lý hát chầu văn trong các giá hầu đồng ở Phủ Dầy.

Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của hát văn hầu đồng trong bối cảnh xã hội hiện nay

Ở chương 3, chúng tôi phân tích, đánh giá những giá trị của hát văn hầu đồng, từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của hát văn hầu đồng trong bối cảnh hiện nay.

Click vào đây để xem nội dung

Từ khóa:
Top