MÚA TRONG NGHI LỄ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
02/01/2018

MỞ ĐẦU

  1. Lý do chọn đề tài

Phật giáo là một tôn giáo lớn có hệ thống giáo lý với chiều sâu đạo học, triết học, vũ trụ và nhân sinh. Về mặt nhân sinh quan, Phật giáo triết lý về sự giải thoát khỏi bể khổ của cuộc đời “sinh – lão – bệnh – tử” là một thực tại. Tu luyện tâm linh (cả đạo đức và trí tuệ) và giải thoát chúng sinh khỏi kiếp luân hồi. Phật giáo là hướng thiện, là hướng tới từ bi, bác ái cho chúng sinh và mang một tinh thần nhân văn cao cả.

Ngay khi được truyền vào nước ta, Phật giáo đã nhanh chóng thích nghi với lối sống của người dân Việt. Bên cạnh tục thờ Mẫu và tín ngưỡng bản địa, Phật giáo đã từ từ đi vào tiềm thức của người Việt, được Việt hóa để trở thành một yếu tố mạnh mẽ, ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân Việt. Phật giáo có vai trò không nhỏ trong đời sống, văn hóa, chính trị góp phần hình thành nên chủ nghĩa nhân văn. Phật giáo đã in sâu trong tâm thức, quan niệm sống trên cả bốn cõi (cõi trời, cõi đất, cõi nhân gian, cõi vĩnh hằng) và cả bốn chiều của từng cõi (quá khứ, hiện tại, tương lai, tâm linh).

Phật giáo và tín ngưỡng dân gian như có sự hòa đồng trong sinh hoạt tâm linh của người Việt. Đây là nơi gửi gắm niềm tin, hi vọng của con người. Phật giáo và tín ngưỡng dân gian còn là yếu tố kích thích các hoạt động văn hóa, tư tưởng tạo ra những giá trị văn hóa, nghệ thuật, trở thành kho tàng văn hóa chứa nhiều tầng ý nghĩa, nhiều giá trị còn tồn tại đến ngày nay và mai sau.

Phật giáo với hơn 350 nghi lễ lớn nhỏ chứa trong mình nhiều loại hình nghệ thuật và múa là một phần không thể thiếu. Đây là một lĩnh vực có tính nghệ thuật, tính khoa học sâu sắc, có ảnh hưởng mạnh mẽ và thấm đậm trong đời sống văn hóa cộng đồng xưa – nay.

Múa nghi lễ trong Phật giáo không chỉ có vai trò quan trọng trong hành đạo, nó còn mở rộng và tham gia vào những sinh hoạt văn hóa nghệ thuật mang tính cộng đồng của người dân Việt. Nhất là khi vua Trần Nhân Tông rời khỏi triều đình lên Yên Tử và hình thành nên trường phái Trúc Lâm Yên Tử (thế kỷ XIII), thì những hoạt động Phật giáo được lành mạnh hóa nếu không muốn nói là dân gian hóa. Do đó “múa thiêng” trong Phật giáo đã tham gia vào nhiều nghi lễ và ngày càng rộng rãi hơn, mạnh mẽ hơn, đa dạng hơn trong sinh hoạt văn hóa đời thường của người dân Việt và cũng là một trong những cơ sở để biến hóa, sáng tạo nên những điệu múa mới mang phong cách nhà Phật.

Để nhận thức được vai trò, ý nghĩa của “múa thiêng” trong Phật giáo, học viên chọn đề tài “Múa trong nghi lễ Phật giáo Việt Nam (trường hợp chùa Viên Giác, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh)” làm đối tượng nghiên cứu. Đề tài này tưởng như không liên quan đến sự định vị và phát triển của nghệ thuật múa nước ta hiện nay, nhưng Phật giáo là một tôn giáo lớn với hệ thống kinh, luật, luận, và các nghi lễ thống nhất, trong đó múa trong nghi lễ Phật giáo là một di sản văn hóa quý giá hội tụ đầy đủ các giá trị văn hóa, xã hội, thẩm mỹ, nghệ thuật và đặc biệt là giá trị giáo dục sâu sắc. Múa nghi lễ Phật giáo còn là cội nguồn góp phần vào sự phát triển nền nghệ thuật múa Việt Nam, đồng thời là vốn liếng để kế thừa, phát triển múa Việt Nam đương đại. Do vậy, ở thời đại hội nhập - toàn cầu hóa này nếu không khẩn trương sưu tầm, chỉnh lý, bảo tồn múa Phật giáo cả về thực tiễn và lý luận thì nguy cơ mai một đi là điều không thể tránh khỏi trong tương lai không xa.

2. Mục đích nghiên cứu

- Hiểu rõ đặc điểm, cấu trúc, đặc trưng văn hóa về múa trong nghi lễ Phật giáo Việt Nam nghiên cứu trường hợp chùa Viên Giác, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

- Quy nạp các giá trị văn hóa - xã hội, nghệ thuật, thẩm mỹ, giáo dục và những tác động tới đời sống văn hóa tâm linh, tư tưởng tình cảm của con người qua nghệ thuật múa Phật giáo Việt Nam.

- Đề cập một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của múa Phật giáo Việt Nam bằng những luận cứ khoa học.

- Góp phần vào quá trình gìn giữ vốn văn hóa phi vật thể của dân tộc trong công cuộc hoằng dương Phật pháp, và là nguồn chất liệu quý giá cho các biên đạo sáng tác nên các tác phẩm múa mới.

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1. Ý nghĩa lý luận

Đề tài được học viên quan sát và nghiên cứu từ góc độ khách quan để từ đó nhận diện được vấn đề sức ảnh hưởng rộng lớn của Phật giáo trên mọi lĩnh vực văn hóa, xã hội, văn học, nghệ thuật, trong đó nghệ thuật múa cũng chịu sự chi phối không ít. Đề tài đưa ra các giá trị của múa nghi lễ Phật giáo. Nếu nói nghệ thuật múa biểu lộ chủ yếu tình cảm bằng những động tác hình thể thì khi kết hợp với nội dung triết lý nhà Phật hình thành nên một tổng thể hoàn chỉnh cái đẹp về cả nội dung lẫn hình thức. Hướng nghiên cứu “múa thiêng” Phật giáo là cách tiếp cận hướng đến việc nghiên cứu sự phát triển cũng như giá trị của các thành tố văn hóa dân gian, tín ngưỡng, tôn giáo cực trọng điểm thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật múa. Gìn giữ vốn văn hóa phi vật thể của dân tộc trong công cuộc hoằng dương Phật pháp, và là nguồn chất liệu quý giá cho các biên đạo sáng tác nên các tác phẩm múa mới.

            Với ý nghĩa lý luận vừa nêu, học viên thiết nghĩ những kết quả nghiên cứu về mặt lý luận của đề tài sẽ góp phần định hướng nghiên cứu mang tính khoa học định lượng trong quá trình bước đầu hình thành đội ngũ lý luận nghiên cứu nghệ thuật múa còn khá khiêm tốn như hiện nay.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả đề tài sẽ đóng góp một cách trực tiếp và có giá trị tham vấn trong quá trình định hướng bảo tồn, phát triển, lối tư duy giữa truyền thống- hiện đại, tiếp nhận và cải biên các giá trị của sự lan toả văn hoá nội vi và ngoại lai để phát triển nền nghệ thuật múa nước nhà cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của dân tộc mình. Cụ thể, các hướng ứng dụng của đề tài: Bộ văn hóa, thể thao và du lịch, Hội nghệ sĩ Múa Việt Nam, đơn vị, cục tổ chức biểu diễn…   

Bên cạnh đó, đề tài khi hoàn thành sẽ là nguồn tư liệu hữu ích cho sinh viên, học sinh, giáo viên, biên đạo dàn dựng múa các lĩnh vực: Việt Nam học, văn hóa học, các ngành đào tạo liên quan đến lĩnh vực nghệ thuật: biên đạo, huấn luyện, đạo diễn sân khấu…

4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Những công trình nghiên cứu, lý luận về tư tưởng Phật giáo Việt Nam do các học giả và các nhà Phật học nghiên cứu đã được công bố:

  • Nguyễn Tài Thư (1997) “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia.
  • Thích nữ Trí Hải dịch (2000) “Đức Phật đã dạy những gì (con đường thoát khổ)”, Nxb Tôn giáo.

Ngoài ra, các tác giả Đào Duy Anh với cuốn Việt Nam văn hóa sử cương và Nguyễn Đổng Chi với Việt Nam cổ văn sử học viết về những vấn đề văn hóa Phật giáo một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực triết học, văn học, nghệ thuật. Tác giả Nguyễn Đăng Duy và Thích Mãn Giác với ấn phẩm trùng tên Phật giáo với văn hóa Việt Nam nói về mối quan hệ của Phật giáo với nền văn hóa chung của Việt Nam.

Trong cuốn “Thế giới Phật giáo” nhiều tác giả, Dịch từ Encyclopedia of Buddhism. Mac Millan Refference. USA. 2003. R.E. Buswell chủ biên có viết:

“Nghiên cứu nghệ thuật Phật giáo xứng đáng được dành riêng một đề tài, một phần bởi vì, không may, vẫn chưa tìm được vị trí đúng đắn của nó trong hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu văn bản gốc của Phật giáo. Còn tồn tại một sự thực là phần nhiều các sử gia về nghệ thuật đều chưa có đủ sự thông thạo với văn học hoặc tư tưởng Phật giáo, và phần lớn các nhà nghiên cứu Phật học, dù giỏi nhất, chỉ mới quen thuộc thoáng qua với các công cụ và phương pháp của lịch sử nghệ thuật. Tuy nhiên, không thể nào hiểu được Phật giáo trong một bối cảnh văn hoá nào đó mà không có sự nhận thức sâu sắc về những ấn tượng nghệ thuật đa dạng. Tuy thế, bắt nguồn từ cuộc tiếp xúc mới mẻ đầu tiên với nghệ thuật Phật giáo, các học giả đã cố gắng để hiểu được ý nghĩa và vai trò của nghệ thuật này”.

Những lĩnh vực như nghiên cứu về âm nhạc và vũ điệu Phật giáo hầu như hoàn toàn bị bỏ quên, mặc dù rõ ràng bộ môn này tập trung vào lễ nghi Phật giáo và công phu hằng ngày của cả hai giới tăng sĩ xuất gia và cư sĩ tại gia trong mọi lĩnh vực văn hoá. Như thế, chỉ đến gần đây, nghi lễ Phật giáo mới thu hút sự chú ý của giới khảo sát. Những chuyên đề chuyên sâu về múa Phật giáo nói chung và múa trong nghi lễ Phật giáo nói riêng có tính hệ thống còn rất khiêm tốn, rải rác có một số bài báo, tác phẩm nghiên cứu về vấn đề này như PGS-TS-NSND Lê Ngọc Canh “Nghệ thuật Múa Phật giáo”, tạp chí nghiên cứu tôn giáo, số 12-2008 cũng chỉ giới thiệu ngắn gọn, sơ lược một số điệu múa Phật giáo.

Bài tham luận trong hội thảo Múa cổ Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội do Hội nghệ sĩ múa Hà Nội tổ chức năm 2011 của tác giả Trần Lệ Cung “Đôi điều suy nghĩ về văn hóa múa Phật giáo” có viết “Không gian múa thường là chùa, đình, nơi linh thiêng đang bị xâm phạm, không còn giữ được nét cổ xưa.” Để bảo tồn và phát triển được các điệu múa tôn giáo thì “đặc trưng của múa cổ là gắn với lễ hội, làng xã. Làng lưu giữ hội làng và tín ngưỡng của làng thì múa cổ sẽ tồn tại. Quan trọng là hồn dân tộc trong điệu múa còn, vì vậy, cho dù không gian và thời gian có biến đổi thì khi diễn, điệu múa vẫn giữ được.”

Trong sách “Nghệ thuật Phật giáo trong đời sống hôm nay”, Nxb Dân Trí do Hoàng Chương chủ biên (2010) nêu lên ý nghĩa, giá trị của múa nghi lễ Phật giáo. “Nghệ thuật múa Phật giáo mang dấu ấn lịch sử, được ngưng tụ ở Thăng Long – Hà Nội, nơi hội tụ hồn thiêng sông núi và lan tỏa văn hóa, nó được ví như viên ngọc quý long lanh trong kho tàng nghệ thuật múa Thăng Long – Hà Nội và kho tàng nghệ thuật múa dân tộc Việt Nam.

            Song một công trình nghiên cứu toàn diện, cho đến nay chưa có tác giả nào chuyên sâu khảo cứu về những điệu múa trong nghi lễ Phật giáo Việt Nam để từ đó rút ra “tính thiêng” và những giá trị cơ bản của múa trong nghi lễ Phật giáo Việt Nam có tính hệ thống.

 

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về “Múa trong nghi lễ Phật giáo Bắc tông. Nghiên cứu trường hợp chùa Viên Giác, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh” cụ thể là:

  • Múa Lục Cúng (múa Điểm Tịnh và múa Lục Cúng)
  • Múa Giải Oan Thích Kết (múa Cắt Kết và múa Phá Ngục)
  • Múa Mông Sơn Thí Thực (múa Mật Pháp và múa Chẩn Tế)

5.2. Phạm vi nghiên cứu

Nghi lễ Phật giáo nói chung và múa trong nghi lễ Phật giáo Bắc Tông nói riêng là một lĩnh vực rộng lớn đòi hỏi phải cần nhiều thời gian và công trình nghiên cứu mới có thể đạt đến mục đích khoa học cao nhất. Do vậy, với yêu cầu của một luận văn thạc sỹ, người thực hiện giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình như sau:

5.2.1. Không gian nghiên cứu:

Tìm hiểu về Múa nghi lễ Phật giáo Bắc tông tại chùa Viên Giác, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Lý do lựa chọn địa bàn nghiên cứu:

- Chùa Viên Giác thuộc quản lý ban tăng sư Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh.

- Chùa có lịch sử hình thành lâu đời (1955).

- Ngôi chùa có tháp bằng gốm cao nhất Việt Nam với không gian cổ kính uy nghiêm của kiến trúc Phật Giáo Á Đông.

- Chùa thường xuyên tổ chức các nghi lễ lớn nhỏ, thuyết giảng về các nghi lễ nhà Phật như lễ nhạc, lễ phục, lễ khí, lễ nghi, lễ bái, bao gồm cả vũ đạo trong các nghi lễ, thu hút hàng ngàn Phật tử và du khách từ khắp mọi nơi về tham dự.

- Cùng với việc duy trì và bảo tồn văn hóa nghi lễ Phật Giáo, nơi đây còn lưu giữ hoàn chỉnh các điệu múa nghi lễ.

- Trụ trì và Ban trị sự của chùa đồng thời cũng là thành viên Ban nghi lễ GHPG TP.HCM. Do đó, chùa Viên Giác luôn là điển hình đi đầu việc duy trì nghi lễ Phật giáo một cách bài bản và hệ thống trong các sự kiện quan trọng của Phật Giáo.

5.2.2. Thời gian nghiên cứu:

Từ 1981 đến 2016, trong vòng 35 từ khi thành lập, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có sự thống nhất tất cả sinh hoạt Phật giáo của tăng ni, phật tử Việt Nam. Do đó, tác giả tiến hành sưu tầm, nghiên cứu Múa nghi lễ Phật giáo tại chùa Viên Giác, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh

Click vào đây để xem nội dung

Từ khóa:
Top