TRANG SỨC CỦA PHỤ NỮ VIỆT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
05/10/2017

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài.

         Trong đời sống xã hội, cái đẹp là nhu cầu của cuộc sống, là nhu cầu của mỗi người, mỗi cộng đồng người, mỗi dân tộc và cả nhân loại. Ngay từ xa xưa, con người đã tự làm ra đồ trang sức tuy vật liệu và hình thức lúc đầu còn thô sơ. Các nhà khảo cổ học đã tính ra rằng từ thời đá cũ con người đã biết sử dụng mười hai chất liệu trong đời sống hàng ngày và trong việc làm đẹp: đất, đá, tre, gỗ, xương, sừng, xà cừ, trai, sò ốc, vàng, ngọc…

            Đồ trang sức là một trong những yếu tố làm đẹp, góp phần vào tổng thể phục sức nhằm làm đẹp (Mỹ) là một trong ba định hướng giá trị văn hóa cơ bản của Con Người, bên cạnh việc làm đúng (Chân) và làm điều tốt lành (Thiện). Theo như C. Mác đã nhận định “Con người sáng tạo theo quy luật của cái Đẹp”. Các nghệ nhân làm đồ trang sức cũng có thể được xem là các nhà văn hóa mà ngày xưa dân gian ta từng xếp theo hai cấp độ “ làm thày nuôi vợ, làm thợ nuôi miệng”. Thợ chỉ biết làm theo chỉ dẫn, theo mẫu mã có sẵn. Thày là bậc thợ giỏi, xuất chúng, có đầu óc sáng tạo những mẫu mã mới. Ở nước ta, Thăng Long - Kẻ Chợ - Hà Nội được coi là nơi hội tụ – kết tinh – giao lưu – lan tỏa cái hay, cái giỏi, cái khôn khéo của Thợ - Thày cả nước giống câu ngạn ngữ:

  • Ngát thơm hoa sói hoa nhài

    Khôn khéo thợ thày Kẻ Chợ

  • Khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ.v.v..

Theo ý nghĩa như vậy, các đồ trang sức do con người tạo nên nhằm tôn thêm vẻ đẹp của chính cơ thể mình cũng là một nét văn hóa – văn hóa thẩm mỹ trong cuộc sống thực chất là nhu cầu làm đẹp của con người và đó là nhu cầu bất tận.

Xã hội ngày càng phát triển, mỗi thời lại có nhu cầu làm đẹp cao hơn về hình dáng, cách đeo đồ trang sức ở mỗi thời cũng có sự khác nhau, và những sản phẩm mỹ nghệ ấy cũng có giá trị cao hơn cả về kỹ thuật và mỹ thuật theo xu hướng thị hiếu đương thời. Một điều dễ nhận thấy là: mỗi dân tộc có một quá trình phát triển và trang sức xuất phát từ những đặc điểm lịch sử, địa lý, kinh tế, phong tục, tập quán…cũng như một nước bao gồm nhiều thành phần dân tộc thì trang sức cũng càng phong phú và đa dạng. Ngay như những yếu tố cơ bản của chất liệu về đá, vàng, bạc…cũng như chủng loại trang phục vòng tay, nhẫn, hoa tai… của con người ở trên toàn cầu từ xưa đến nay định danh cho chúng là giống nhau. Nhưng vẻ đẹp đồ trang sức của mỗi dân tộc lại có những sự khác nhau. Đây chính là một trong những khía cạnh tạo nên bản sắc dân tộc, bởi những nét riêng trong khiếu thẩm mỹ. Ngoài giá trị đó, nó còn gắn với phong tục tập quán, chắt lọc những tinh hoa trong đời sống tạo nên những sản phẩm độc đáo, tinh xảo, một nét tiêu biểu của văn hóa vật chất. Mặt khác, đồ trang sức còn mang những giá trị văn hóa tinh thần trong đời sống xã hội nhất định của từng tộc người, không ngoại trừ cả yếu tố tâm linh mà mỗi tác phẩm của món đồ trang sức ấy lại có thêm một ngôn ngữ biểu hiện riêng và theo quan niệm của từng tộc người về giá trị quý hiếm của sản vật, vẻ đẹp của chất liệu… làm tiêu chí thẩm mỹ và giá trị kinh tế, thước đo đẳng cấp, biểu tượng quyền lực trong xã hội…

Chính vì những lý lẽ trên tác giả luận văn đã chọn đề tài “Trang sức của phụ nữ Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành Việt Nam học với mục tiêu tìm hiều về tình hình trang sức của phụ nữ Việt Nam nói chung và của phụ nữ tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng nhằm đưa ra các định hướng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị trang sức của phụ nữ Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về thị trường vàng và trang sức như: Weak-form Efficiency In The Gold Market (Adrian Tschoegl - August 1978), Gold - An  Illustrated  History  (Vincent  Buranelli  -  1979),  Gold  Fever  (Kenneth  J. Kutz - 1987), World of Gold (Timothy Green - 1991), The Gold Companion (Timothy  Green  -  1993),  The  Impact  Of  Derivatives  On  The  Gold  Market (Jessica  Cross  -  Chief  Executive,  Virtual  Metals  Research  &  Consulting  - March 2002), The Price of  Gold  (Peter L. Bernstein - 2004), Gold  Market Lending (Neal R. Ryan - Vice President & Director of Economic Research Blanchard and Company, Inc. - January 2006), The “Bird Of Gold“: The Rise Of  India’s  Consumer  Market  (McKinsey  Global  Institute   May  2007), Liquidity  In  The  Global  Gold  Market  (World  Gold  Council  April  2011). Nhìn chung các nhà kinh tế học nước ngoài thường đi sâu phân tích các số liệu liên quan đến thị trường vàng và trang sức, vai trò của vàng và đồ trang sức trong đời sống kinh tế xã hội. Những nghiên cứu như vậy là nguồn tham khảo rất hữu ích cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn này.

Tại Việt Nam tuy không nhiều công trình số nghiên cứu sâu về thị trường đồ trang sức và vai trò của thị trường vàng và đồ trang sức trong đời sống nhưng cũng có một số công trình nghiên bài viết đáng lưu ý như sau:

Tác phẩm”Trang sức của người Việt Cổ” của tác giả Trịnh Sinh-Nguyễn Văn Huyền, Nhà xuất bản văn hóa Dân tộc, năm 2011. Ở tác phẩm này hai tác giả đã giới thiệu tổng quan về các sản phẩm trang sức được chế tác từ đất, đá, tre, gỗ đến vàng, bạc, ngọc ngà,… với nhiều sản phẩm đa dạng về mẫu mã tạo ra vẻ đẹp cho người phụ nữ khi sử dụng.

Đề tài luận văn thạc sỹ “Kinh doanh vàng và trang sức vàng tại các doanh nghiệp kinh doanh vàng trên địa bàn TP.HCM” của tác giả Huỳnh Phước Nguyên Trường đại học kinh tế TP.HCM  năm 2007 cũng đã phản ánh tình hình kinh doanh sản phẩm vàng và trang sức vàng tại các doanh nghiệp kinh doanh vàng trên thị trường TP.HCM. Công trình bước đầu phản ánh được tình hình cung cầu, cũng như nhu cầu nhu hướng về trang sức nói chung và trang sức vàng nói riêng của phụ nữ tại TP.HCM.

Đề tài luận văn thạc sỹ “Các giải pháp kinh doanh trang sức vàng tại TP.HCM” của tác giả Đặng Thị Tường Vân trường Đại học kinh tế TP.HCM năm 2008. Nội dung của luận văn đã nghiên cứu tình tình kinh doanh trang sức vàng tại Việt Nam và xây dựng, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trang sức vàng tại TP.HCM

Nhìn chung các công trình đã nêu trên, chưa có tài liệu nào viết về cụ thể trang sức phụ nữ Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó việc nghiên cứu đề tài này chúng tôi phải tốn nhiều công sức cho việc khảo sát.

3. Mục tiêu nghiên cứu

3.1.Mục tiêu chung

Đề tài làm rõ ý nghĩa, vai trò cũng như là những nhu cầu qua việc sử dụng trang sức trong đời sống văn hóa tinh thần thông qua trang sức của phụ nữ Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh góp phần hoàn thiện bức tranh tổng thể về nghiên cứu văn hóa nghệ thuật nói chung và giá trị văn hóa tinh thần của phụ nữ Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng khi sử dụng trang sức.

  3.2.Mục tiêu nghiên cứu cụ thể.

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về trang sức

Phân tích nhu cầu và đặc điểm sử dụng trang sức của phụ nữ Việt ở Thành Phố Hồ Chí Minh

Căn cứ vào phân tích nhu cầu và đặc điểm sử dụng trang sức của phụ nữ Việt ở Thành Phố Hồ Chí Minh tác giả đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị trang sức của phụ nữ Việt ở Thành Phố Hồ Chí Minh

4.  Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

4.1. Đối tượng nghiên cứu.

Đề tài tập trung tìm hiểu và nghiên cứu về việc làm đẹp của phụ nữ Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh mà cụ thể là thông qua việc sử dụng nữ trang trong cuộc sống hằng ngày

4.2.  Phạm vi nghiên cứu.

4.2.1. Không gian nghiên cứu.

Nghiên cứu về vấn đề sử dụng trang sức của phụ nữ Việt trên toàn địa bàn ở Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung nhất là trang sức vàng ở các khu trung tâm thương mại ở các Quận 1, Quận 3, Quận 5, quận Phú Nhuận, quận Tân Bình vì nơi đây tập trung các cửa hàng của các Tập đoàn công ty Vàng Bạc đá quý nổi tiếng ở Việt Nam nói chung ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, chẳng hạn như công ty Vàng Bạc đá quý SJC, Vàng Bạc đá quý Bến Thành, Vàng Bạc đá quý DOJI, Sacombank-SBJ, Vàng Bạc đá quý Cartino, Thế giới Kim cương,…, đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu phân khúc của các dòng sản phẩm cao cấp nữ trang cho phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Vì vậy chúng tôi chọn khảo sát các địa bàn này là hợp lý cho việc thực hiện đề tài này     

4.2.2. Thời gian nghiên cứu.

Nghiên cứu trang sức của phụ nữ Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 – cho đến nay, là giai đoạn thị trường trang sức bắt đầu phát triển có nhiều xu hướng chọn vàng trang sức hơn là chọn vàng miếng.  Việt Nam là 1 trong 15 quốc gia tiêu thụ vàng nhiều nhất trên thế giới, nhưng đại đa số người dân Việt Nam vẫn có thói quen mua vàng miếng nhằm “đầu cơ trích trữ” hơn là làm đẹp, tuy nhiên cùng với ổn định của nền kinh tế, xu hướng dịch chuyển từ mua vàng miếng sang vàng trang sức đang diễn ra một cách mạnh mẽ, lượng vàng trang sức tiêu thụ tại Việt Nam liên tục tăng trong vòng 3 năm trở lại đây, ngược lại vàng miếng giảm mạnh trong năm 2014 và 2015 lần lượt là 33% và 15% , đồng thời Việt Nam là một quốc gia có hơn 90 triệu dân với 70% dân số thuộc nhóm tuổi từ 15- 64 nằm trong tuổi lao động và tiêu dùng trong đó có 51% dân số là nữ, tạo ra lực lượng nữ mua sắm trang sức dồi dào.[53]       

5. Phương pháp nghiên cứu.

Với tính chất đối tượng nghiên cứu từ góc độ Việt Nam học, chúng tôi đã sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành Văn hóa học, Kinh tế học, Sử học, Xã hội học kết hợp một số kiến thức chuyên ngành khác như Triết học, Mỹ học, Tâm lý học…để giải quyết chủ đề trọng tâm của đề tài. Ngoài ra, để thực hiện đề tài chúng tôi còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Phương pháp điều tra bảng hỏi

    Đây là một phương pháp quan trọng được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài. Chúng tôi sử dụng phiếu điều tra bảng hỏi được tiến hành trong khoảng thời gian 4/ 2017 đến 6/ 2017 với phiếu được hỏi 100 phiếu cho các khách hàng ở các khu trung tâm thương mại. Số phiếu điều tra được chia đều cho các trung thương mại thuộc các Quận  như sau: Quận 1 điều tra 20 phiếu, Quận 3 điều tra 20 phiếu,  Quận 5 điều tra 20 phiếu,  quận Phú Nhuận điều tra 20 phiếu, và quận Tân Bình 20 phiếu 

  • Phỏng vấn sâu

     Bên cạnh phương pháp phương pháp điều tra bảng hỏi chúng tôi còn dùng phương pháp phỏng vấn 10 người bán hàng ớ các khu trung tâm thương mại ở các Quận 1, Quận 3, Quận 5, quận Phú Nhuận, và quận Tân Bình, để tìm hiểm thêm nhu cầu sử dụng trang sức nữ trang và đồng thời tìm hiểu thêm được nét truyền thống nghề thợ bạc – gia công chế tác nữ trang được kế thừa từ sự phát triển của nghề kim hoàn tại Thành phố Hồ Chí Minh

  • Phương pháp quan sát

     Ngoài ra, chúng tôi còn thực hiện thêm phương pháp quan sát, bằng việc quan sát tại những điểm bánVàng Bạc đá quý  để ghi chép, thống kê số liệu về  khách hàng đến mua vàng nữ trang và cách thức trao đổi, giao dịch giữa người bán với khách hàng. Qua đó có thể biết được nhu cầu thực sự khách hàng với trang sức nữ trang ngày nay   đối với phụ nữ Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh   

  • Phương pháp phân tích- tổng hợp tư liệu

Đồng thời chúng tôi phân tích tổng hợp tài liệu từ nhiều nguồn đa dạng như các nghiên cứu đi trước, sách, báo, tạp chí, thông tin ngôn luận ,vv.. để làm sáng tỏ thêm được nhu cầu sử dụng trang sức nữ trang của phụ nữ Việt Nam nói chung cũng như phụ nữ Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và là nét văn hóa làm đẹp của phụ nữ Việt của chúng ta

6. Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia thành ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Nội dung của chương này nói về khái niệm trang sức và quá trình hình thành phát triển trang sức qua các thời đai

Chương 2: Nhu cầu và đặc điểm sử dụng trang sức của phụ nữ Việt ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Nội dung chương này nói về nhu cầu sử dụng trang sức làm đẹp của phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Chương 3: Định hướng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị trang sức của phụ nữ Việt ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Nội dung chương này nói về phát huy, gìn giữ và bảo tồn nghề kim hoàn cũng như gìn giữ nét đẹp văn hóa đeo trang sức của phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Click vào đây để xem nội dung

Từ khóa:
Top